Khi sản lượng cao su Việt Nam ngày càng phát triển mạnh, Nhà nước tăng cường giám sát về môi trường thì việc quản lý nước thải ở các nhà máy sơ chế cao su cần phải được quan tâm đúng mức.
Nhìn chung, nước thải ở các nhà máy sơ chế cao su được phân biệt theo các dòng sản phẩm như sau: Nước thải của nhà máy sản phẩm cao su ly tâm; sản phẩm mủ cốm SVR L, 3L, CV50, CV60, RSS từ nguyên liệu mủ nước; sản phẩm mủ cốm SVR10 & 20 từ nguyên liệu mủ đông tạp.
Mủ cao su : là một hợp chất lỏng phức hợp ,có thành phần và tính chất khác biệt nhau tùy theo loại .Có thể nói đó là một trạng thái nhũ tương (thể sữa trắng đục )của các hạt tử cao su (pha phân tán )trong môi trường phân tán lỏng .
Nguồn phát sinh :
-Nước thải chế biến mủ cao phát sinh chủ yếu từ các công đoạn khuấy trộn, làm đông, gia công cơ học và nước rửa máy móc, bồn chứa.
-Nước thải phát sinh trong quá trình chế biến cao su thiên nhiên từ các dòng sau đây:
+ Dòng thải 1: Nước thải từ quá trình sản xuất mủ khối
+ Dòng thải 2: Nước thải từ quá trình chế biến mủ skim
+ Dòng thải 3: Nước thải rửa từ dây chuyền sản xuất mủ
+ Dòng thải 4: Nước thải từ quá trình sản xuất mủ ly tâm
Tính chất nước thải hệ thống xử lý nước thải cao su :
Nước thải chế biến cao su có pH thấp, do việc sử dụng axit để làm đông tụ mủ cao. Đặc trưng của nước thải cao su là trong nước thải chưá nhiều hạt cao su nhỏ, không đóng thành mảng lớn được, tồntại ở dạng huyền phù.Hàm lượng amoniac, BOD, COD quá cao trong nước thải.
Quy Trình công nghệ xử lý nước thải:
Với những đặc trưng như BOD, COD, N và SS cao cùng với pH thấp khiến cho việc xử lý loại nước thải này phải kết hợp giữa hóa lý và sinh học để đạt hiệu quá cao.
Chất lượng nước thải đầu ra: theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp chế biến cao su thiên nhiên: QCVN 01:2008/BTNMT, Cột B.
Thuyết minh sơ đồ công nghệ:
Nước thải sau quá trình sản xuất mủ cao su sẽ được đưa qua song chắn rác để loại bỏ những tạp chất có kích thước lớn ,phần rác được tách ra sẽ được tập trung lại và vận chuyển đến bãi rác .Sau đó ,nước thải qua bể gạn mủ để loại bỏ những bông mủ hình thành trên mặt thoáng.
Tiếp theo ,nước sẽ vào bể keo tụ và bể tạo bông để làm giảm lượng chất rắn lơ lửng .Ở các bể này ,ta dùng các hóa chất là phèn và polyme để tăng hiệu quả xử lý.
Nước thải sau khi loại bỏ cặn ở bể lắng sơ cấp sẽ được đưa vào bể UASB và bể Aerotank để dùng các quá trình kị khí ,hiếu khí nhằm loại bỏ các chất hữu cơ có thể phân hủy, tạo nên các hạt bùn có kích thước lớn hơn và được giữ lại ở bể lắng đợt 2 nhằmloại bỏ hết các bông cặn và đảm bảo đạt tiêu chuẩn QCVN01:2008/BTNMT...
Lượng bùn này ,một phần được dẫn trở lại bể Aerotank và phần còn lại chuyển đến bể nén bùn để giảm độ ẩm rồi đến bể mêtan xử lý.

0 comments:
Post a Comment